Hồ sơ năng lực Ho so nang luc1.png của freelancer Lê Thị Phương Tâm
Icon close Icon gift

Đăng nhập tài khoản

hoặc

Bạn quên mật khẩu? Click vào đây

Tạo tài khoản miễn phí

hoặc

Họ và tên

Địa chỉ email

Mật khẩu

Xác nhận mật khẩu

Mã giới thiệu (không bắt buộc)

Khi tạo tài khoản bạn đồng ý với điều khoản của vLance

Dịch truyện ngắn, viết bài luận, nghiên cứu
TP. Hồ Chí Minh
Dịch truyện n...
TP. Hồ Chí Minh

Like page để nhận được nhiều ưu đãi

Theo dõi Zalo OA để cập nhật việc làm mới nhất

Zalo Official Account
Kết nối với chúng tôi

Lược dịch chương 1 tiểu thuyết Waiting the barbarians by John Maxwell Coetzee

140 0
LƯỢC DỊCH NỬA CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT WAITING THE BARBARIANS CỦA JOHN MAXWELL COETZEE ( Phương Tâm) Tác phẩm lớn đầu tiên của John Maxwell Coetzee, Đợi chờ bọn rợ (1980), kể về một luật sư không tên tuổi ở một đồn canh biên giới. Đồn canh này được trang bị bởi một đội đặc nhiệm tàn bạo để chống lại sự tấn công của “những kẻ mọi rợ” dù không ai biết thực ra kẻ thù luôn được nhắc đến này là ai. Tác phẩm ghi lại lời tự thú của một nhân vật không tên đảm nhiệm chức vụ là thẩm phán tại một vùng đất của một đế quốc vô danh phát động một cuộc chiến tranh chống các bộ lạc dân thiểu số. Lúc đầu ông không phản đối cuộc chiến. Nhưng rồi hối hận, ông quay sang giúp đỡ và ủng hộ kẻ thù như một hành động chuộc lỗi để cuối cùng bị hành hạ tàn nhẫn, y như kẻ thù. Một trong những đoạn khủng khiếp nhất của câu chuyện là đoạn tra tấn các tù nhân bổ sung vào bộ sưu tập các kiểu hành vi mà con người có thể có trong cơn lốc bùng phát bạo lực. *** Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ thứ gì giống như vậy: hai mảnh thủy tinh nhỏ treo lơ lửng trước mắt của ông ta trong vòng kiềng của sợi dây. Ông ta mù ư? Tôi có thể nghĩ như vậy nếu ông ta muốn che giấu đôi mắt mù. Tuy nhiên, ông không hề mù. Các mảnh thủy tinh màu tối. Trông chúng mờ đục từ bên ngoài, nhưng ông ta lại có thể nhìn xuyên qua chúng. Ông ta nói với tôi rằng: chúng là một phát minh mới. “Chúng bảo vệ đôi mắt con người để chống lại ánh sáng chói của mặt trời”, ông ta nói. “Anh sẽ tìm thấy tác dụng của chúng trong sa mạc này. Chúng giúp chúng ta hạn chế sự nheo mắt ở mọi thời điểm. Chúng ta sẽ ít bị đau đầu hơn. Nào nhìn xem.”. Ông chạm nhẹ vào các góc ở đuôi mắt. “Không hề có nếp nhăn nhé”. Ông để kính lại chỗ cũ. Đúng như vậy. Ông có làn da của một người đàn ông trẻ hơn. “Ở nhà mọi người đều đeo chúng đấy.” Chúng tôi ngồi trong phòng tốt nhất của quán trọ với một chiếc bình và một bát quả hạch ở giữa. Chúng tôi không thảo luận về các lý do mình có mặt ở đây. Ông ấy có mặt ở đây thuộc quyền hạn khẩn cấp, bao nhiêu đó là đủ. Thay vào đó, chúng tôi nói chuyện về săn bắn. Ông nói với tôi về cuộc đua cuối cùng của ông, khi hàng ngàn các loài hươu, nai, lợn, gấu đã bị giết chết. Chúng quá nhiều đến nỗi một ngọn núi phải biến đổi vì xói mòn (“Thật là một điều đáng tiếc”). Tôi nói với ông về những đàn ngỗng và vịt xuống hồ mỗi năm vào đợt di cư của chúng và những cách truyền thống để có thể bẫy sập được chúng. Tôi đề nghị đưa ông ta đi câu cá vào ban đêm trên một chiếc thuyền bản địa. “Đó là một kinh nghiệm không thể bỏ qua” tôi nói. “Các ngư dân mang theo những ngọn đuốc rực lửa và đánh trống trên mặt nước để xua đàn cá vào các mạng lưới mà họ đã đặt sẵn”. Ông gật đầu. Ông cũng nói với tôi về một chuyến viếng thăm mà ông đã trải qua ở đâu đó trên biên giới, nơi mà mọi người chắc chắn coi những con rắn như một món ăn, và nói về một con linh dương khổng lồ mà ông đã săn được. Ông phải nhìn kỹ để chọn những bước đi không chắc chắn giữa những món đồ vật lạ ngổn ngang nhưng ông vẫn không chịu lấy đôi kính đen xuống. Ông đã nghỉ hưu sớm. Ông làm tư ở đây, tại quán trọ này vì đây là chỗ ở tốt nhất mà thị trấn cung cấp. Tôi tạo ấn tượng với các nhân viên bằng cách giới thiệu ông là một khách viếng thăm quan trọng rằng: “Đại tá Joll đến từ Văn phòng thứ ba”.Tôi nói với họ: “Văn phòng thứ ba là bộ phận quan trọng nhất của lực lượng Bảo vệ dân hiện nay.”. Đó là những gì chúng ta nghe, dù sao đi nữa, tin đồn cũng đã đến với chúng ta lâu ngày từ thủ đô. Người Chủ trọ gật đầu, những người giúp việc thì cúi đầu. “Chúng tôi phải tạo ấn tượng tốt về ông ấy.” Tôi mang chiếc chiếu ngủ của tôi ra khỏi thành, đến nơi mà gió đêm đến làm giảm sự nóng bức. Trên mái bằng của thị trấn, tôi có thể thấy hình dáng các người khác đang ngủ dưới ánh sáng chiếu rọi của mặt trăng. Từ dưới cây óc chó trên quảng trường, tôi vẫn nghe thấy tiếng rì rào của những cuộc trò chuyện. Trong bóng tối, một ánh sáng hình ống giống như một con đom đóm, cứ yếu dần, rồi phát sáng lên một lần nữa. Mùa hè đang chuyển chầm chậm về thời điểm của cuối mùa. Có tiếng kêu kĩu kịt của vườn cây ăn trái dưới sức nặng của chúng. Tôi đã không nhìn thấy thủ đô kể từ khi tôi còn nhỏ. Tôi tỉnh dậy trước buổi bình minh và nhón chân qua những người lính đang ngủ - những người sôi nổi và thở dài sườn sượt, đang mơ về mẹ và người yêu, để bước xuống cầu thang. Từ bầu trời hàng ngàn ngôi sao chiếu xuống chúng tôi. Thực sự chúng tôi đang ở đây trên mái nhà của thế giới. Giật mình thức dậy trong đêm, anh lính gác cổng lại ngồi bắt chéo chân, ngủ một cách nhanh chóng, tay bồng súng hỏa mai. Góc hóng mát của người gác cổng được đóng lại, xe đẩy của anh ta để bên ngoài. Tôi đi ngang qua. "Chúng tôi không có cơ sở vật chất cho các tù nhân.” tôi giải thích. “Không có nhiều tội phạm và hình phạt mà thường là một khoản tiền hoặc bắt họ lao động. Túp lều này chỉ đơn giản là một kho thóc, như anh thấy”. Bên trong thì đóng kín và có mùi hôi thối. Không có cửa sổ. Hai tù nhân nói dối bị trói trên sàn nhà. Mùi hôi bốc lên từ đó, một mùi nước tiểu lâu ngày. Tôi gọi lính gác: “Hãy cho những người đàn ông này tắm sạch, làm ơn nhanh cho!” Tôi dẫn khách của mình đến kho thóc u ám, lãnh đạm. “Chúng tôi hy vọng kiếm được 3.000 giạ trong năm nay. Chúng tôi thu hoạch chỉ một lần. Thời tiết đã rất hậu đãi với chúng tôi”.Chúng tôi nói chuyện về những con chuột và cách thức kiểm soát số lượng của chúng. Khi chúng tôi trở về túp lều thì ở đó có mùi tro ướt và các tù nhân đã sẵn sàng, quỳ ở một góc. Một ông già, và một cậu bé. “Họ bị đưa vào cách đây vài ngày” tôi nói. “Có một cuộc đột kích không phải là hai mươi dặm từ đây. Điều đó thì bất thường. Bình thường, họ giữ pháo đài. Hai người họ đã bị bắt sau đó. Họ nói rằng họ không đột kích và không làm gì cả. Tôi không biết nữa. Có lẽ họ nói thật. Nếu ông muốn nói chuyện với họ tôi sẵn sàng phiên dịch”. Khuôn mặt của cậu bé sưng húp và thâm tím, một mắt bị sưng híp lại. Tôi ngồi xổm xuống trước mặt và vỗ nhẹ má cậu ta. “Nghe này, cậu bé”. Tôi nói bằng thổ ngữ biên giới. “Chúng tôi muốn nói chuyện với cậu”. Cậu bé không đáp lại. “Cậu ta đang giả vờ.” lính gác nói. “Nó hiểu được.” “Ai đánh cậu ?” Tôi hỏi. “Không phải tôi”. Ông ta nói. “Cậu ấy như vậy khi cậu ta đến”. “Ai đánh cậu?”. Tôi hỏi cậu bé. Cậu bé không nghe thấy tôi nói. Nó nhìn qua vai của tôi, không phải người lính gác, mà là Đại tá Joll bên cạnh anh ta. Tôi chuyển sang Đại tá Joll. “Cậu bé có lẽ chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ cái gì giống như thế trước đây.”. Tôi làm cử chỉ. “Tôi muốn nói là kính đeo mắt. Cậu ta nghĩ rằng ông là một người mù.". Nhưng Đại tá Joll không cười. Trước các tù nhân, cái kính hiện ra giống như một rào bảo vệ chắc chắn. “Thưa ngài”, ông già nói. Giọng ông càu nhàu, ông đằng hắng. “Thưa ngài, chúng tôi không biết gì về trộm cắp. Những người lính đã ngăn chúng tôi lại và buộc tội chúng tôi. Không hề có bất kì điều gì. Chúng tôi đang trên đường để gặp bác sĩ. Đây là con trai của chị gái tôi. Nó không thể làm gì tốt hơn được. Chúng tôi không phải là kẻ trộm. Thưa các ngài.”. Một cách nhanh nhẹn, dùng bàn tay và răng, cậu bé bắt đầu mở giẻ băng ở cánh tay của mình. Các vòng băng cuối cùng đóng bánh với máu và mủ, dính vào da thịt của cậu, nhưng cậu ta đã khơi dậy cảm giác đau đớn khó chịu của chúng để chỉ cho tôi vành đỏ của sự giận giữ của sự ác nghiệt ấy. “Anh thấy đấy” ông già nói, “Không có gì chữa lành nó được. Tôi đã định đưa nó đến bác sĩ khi những người lính bắt chúng tôi. Đó là tất cả.”. Tôi đi bộ trở lại với người khách băng qua quảng trường. Ba người phụ nữ đi ngang qua chúng tôi, trở về từ đập nước với giỏ giặt đồ trên đầu họ. Họ nhìn chúng tôi một cách tò mò, cổ không động đậy. Mặt trời rọi xuống. “Đây là những tù nhân duy nhất mà chúng tôi đã bắt được trong một thời gian dài” tôi nói. Đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Bình thường thì chúng tôi sẽ không có bất kỳ người man rợ nào để cho anh thấy. Đối với nghề ăn cướp thì số tiền sẽ không nhiều khi họ ăn cắp một vài con cừu hoặc cướp vài con vật khác từ một chuyến tàu. Đôi khi chúng tôi còn cướp trở lại họ. Phần lớn họ đều sống thiếu thốn. Các bộ lạc nhỏ có cuộc sống riêng của họ dọc theo con sông. Nó trở thành một lối sống. Người đàn ông già đã giải thích rằng họ định đến gặp bác sĩ. Có lẽ đó là sự thật. Không ai muốn mang theo một ông già và một đứa trẻ bị bệnh đi cùng khi muốn ăn cướp. Tôi nghĩ rằng tôi giải thích cho họ. “Dĩ nhiên không ai có thể chắc chắn. Nhưng dẫu cho họ nói dối thì cũng là cách họ nghĩ làm thế nào họ có ích đối với anh, đơn giản là thế.” Tôi cố gắng kìm chế sự cáu giận của mình trước sự im lặng khó hiểu của ông ta ẩn sau tấm kính tối mờ che giấu đôi mắt khỏe mạnh. Ông đi trong tư thế tay siết chặt trong khi dáng người giống như một người đàn bà. Tuy nhiên, ông nói: “tôi phải đặt câu hỏi với họ. Vào buổi tối này, nếu có điều kiện, tôi sẽ dẫn theo trợ lý. Ngoài ra, tôi sẽ cần một ai đó giúp tôi phiên dịch. Có lẽ là lính gác cổng. Anh ta có thể làm được chứ ?”. Tất cả chúng ta đều có thể hiểu. “Anh muốn tôi không có mặt ở đó phải không? Anh sẽ thấy nó tẻ nhạt. Chúng tôi làm thủ tục để bỏ qua việc này.” Trong tiếng la hét của người dân phát ra từ vựa lúa để đòi chính sách, tôi không nghe thấy được gì. Vào mỗi buổi tối khi tôi trở về khu buôn bán, tôi có thể biết những gì có thể diễn ra, và tai của tôi thậm chí còn căng ra cao độ. Tuy nhiên, kho thóc là một tòa nhà lớn với nhiều cánh cửa lớn và cửa sổ nhỏ, nó nằm ngoài lò mổ và cối xay ở phía nam. Hơn nữa những gì đã từng là một tiền đồn và sau đó là một pháo đài biên giới đã phát triển thành khu định cư nông nghiệp, một thị trấn gồm 3.000 người tạo ra sự náo nhiệt của cuộc sống. Tiếng ồn của những người này đã làm cho buổi tối mùa hè ấm áp vì một nơi nào đó có người đang than khóc. (Tại một nơi nào đó, tôi bắt đầu lý giải theo cách của riêng tôi.) Tôi gặp lại Đại tá Joll. Lúc ông có hứng thú, tôi lại trò chuyện xung quanh việc tra tấn. “Điều gì sẽ xảy ra nếu tù nhân của anh nói ra sự thật?” tôi hỏi. “Anh tìm thấy niềm tin chưa? Đó không phải là một cái nhìn sai lệch? Hãy tưởng tượng: để chuẩn bị quy phục, chịu thua, không có gì hơn đầu hàng, bị tuyệt vọng, chưa bị ép quy phục hơn nữa! Và một trách nhiệm gì đó cho các cuộc thẩm vấn! Anh có bao giờ biết khi một người đàn ông đã nói với anh sự thật là như thế nào không? “. “Có một giai điệu nào đó”, Joll. “Một giai điệu nào đó nhập vào tiếng nói của một người đàn ông đang nói sự thật. Sự đào tạo và kinh nghiệm dạy cho chúng ta nhận ra giai điệu đó. Những giai điệu của sự thật! Anh có thể nhận ra giai điệu này trong lời thoại hàng ngày không? Anh có thể nghe cho dù tôi đang nói sự thật không?”. Đây là giây phút thân mật nhất mà chúng tôi chưa từng có. Ông phẩy bàn tay như một làn sóng nhỏ. “Không, anh hiểu lầm tôi. Tôi đang nói về một tình huống đặc biệt. Tôi đang nói về một tình hình mà tôi đang thăm dò sự thật, tôi đã phải gây áp lực để tìm thấy nó. Trước tiên, tôi nhận được những lời nói dối. Anh nhìn thấy - đây là những gì sẽ xảy ra –những lời nói dối đầu tiên. Sau đó là áp lực, kế tiếp dối trá, tiếp sau đó lại là áp lực, sau đó là đánh đập, sau đó nhiều áp lực, sau đó là sự thật. Đó là cách anh có được sự thật.” Đau đớn chính là sự thật. Tất cả những cái khác chỉ là nghi ngờ. Đó là những gì tôi phải chịu đựng từ cuộc trò chuyện của tôi với Đại tá Joll, người có móng tay nhọn, khăn tay màu hoa cà, đôi chân thon thả trong những đôi giày mềm. Tôi nhớ lại lúc còn ở thủ đô, rõ ràng ông là người thiếu kiên nhẫn, thì thầm với bạn bè của mình trong hành lang nhà hát giữa các hành vi phạm tội. (Mặt khác, tôi là người khẳng định khoảng cách của tôi với anh ta. Tôi uống với anh ta? Tôi ăn với anh ta, tôi chỉ anh ta các điểm tham quan, tôi có khả năng giúp anh ta, hỗ trợ như bức thư yêu cầu hoa hồng của ông, và nhiều hơn nữa. Empire làm không điều kiện như tình yêu công chức, chỉ đơn thuần là thực hiện nhiệm vụ của họ.) Báo cáo anh ta yêu cầu tôi làm trong khả năng của một thẩm phán thì rất ngắn gọn: “Trong suốt quá trình thẩm vấn, những tranh cãi đã trở nên nên rõ ràng khi nhận được lời thú tội của tù nhân. Trong cuộc chất vấn này, các tù nhân trở nên tức giận và tấn công nhân viên điều tra. Một vụ ẩu đả đã xảy ra trong lúc tù nhân bị ngã mạnh đập đầu vào tường. Những nỗ lực để cứu anh ta sống lại đã không thành công.” Vì lợi ích chung, theo yêu cầu của lá thư pháp luật, tôi triệu tập lính gác lại và yêu cầu ông ta tuyên bố. Ông trích dẫn, tôi dịch và truyền lại lời nói của ông: “Các tù nhân đã trở nên không thể kiểm soát được và tấn công nhân viên đến thăm, tôi được gọi đến đây để giúp đỡ ông ấy. Thời gian tôi đến cuộc đấu tranh đã kết thúc. Tù đã nhân bất tỉnh và chảy máu nhiều ở mũi”. Tôi chỉ nơi mà ông cần làm dấu. Ông lấy bút của tôi với điệu bộ cung kính. “Nhân viên nói cho ông biết những gì nói với tôi?” Tôi hỏi ông nhẹ nhàng. “Vâng, thưa ngài.” ông nói. "Bàn tay của tù nhân bị trói phải không?”. “Vâng, thưa ngài. Dù tôi muốn nói là, không, thưa ngài.”. Tôi sa thải anh ta và ra lệnh chôn cất. Nhưng trước khi tôi đi ngủ, tôi cầm một chiếc đèn lồng, băng qua quảng trường, và đi vòng qua các đường phố trở lại các vựa lúa. Có một người bảo vệ mới tại các cửa túp lều, một cậu bé nông dân cuộn tròn trong chăn ngủ. Một chú dế ngừng tiếng kêu của nó khi tôi đến gần. Việc kéo chốt không đánh thức lính gác. Tôi vào túp lều cầm lồng đèn cao, tới gần, tôi nhận ra, những gì đã trở thành thánh thiện hoặc xấu xa trên mặt đất, chẳng có bất kì sự khác biệt nào, cất giấu trạng thái bí mật. Cậu bé nằm trên một cái giường rơm trong góc phòng, còn sống, khỏe. Cậu ấy dường như đang ngủ, nhưng sự căng thẳng trong tư thế của mình phản bội cậu. Tay của cậu được gắn ở phía trước. Ở góc khác là một bó dài màu trắng. Tôi đánh thức lính gác: “Ai bảo anh di chuyển xác chết đến đó?” Anh nghe sự giận dữ trong giọng nói của tôi. “Đó là người đàn ông do người khác đưa đến, thưa ông. Ông ấy đã ở đây khi tôi đến làm nhiệm vụ. Tôi nghe ông ấy bảo với cậu bé rằng phải ngủ với ông nội, giữ ấm cho ông ấy. Ông dọa ông sẽ may cậu bé vào tấm vải liệm, tấm vải liệm, nhưng ông đã không.” Trong khi cậu bé vẫn nằm ngủ một cách cứng nhắc, mắt nhắm một cách gượng ép, chúng tôi mang xác chết ra ngoài. Trong sân, lính gác cầm đèn lồng, tôi nhìn thấy các mũi khâu. Bằng mũi con dao, tôi xé rách tấm vải liệm, và bọc kỹ từ đầu của ông già. Màu xám của râu đã đóng bánh với máu. Môi của ông ta bị nghiền nát bét và được tô vẽ lại, răng cũng bị hỏng. Một bên mắt bị cuộn lại, ổ mắt kia là một lỗ máu. “Che cái xác lại” - Tôi bảo. Người cảnh vệ thắt những chỗ đang mở lại với nhau. Cái xác rớt xuống và mở toang. Họ nói rằng ông ấy đã đập đầu của mình lên tường. “Anh nghĩ sao?”. Anh ta nhìn tôi một cách thận trọng. “Hãy tìm một vài sợi dây và cột nó lại”. Tôi cầm chiếc đèn lồng rọi vào cậu bé. Cậu bé không nhúc nhích nhưng khi tôi cúi đầu để chạm vào má của nó thì nó giật mình và bắt đầu run rẩy như đang có những gợn sóng dài đang chạy lên chạy xuống trong cơ thể của mình. “Nghe tôi này cậu bé”. Tôi nói như vậy. “Tôi sẽ không làm hại cậu đâu”. Cậu ta oằn lưng mình lại và đưa hai tay bị trói của mình ra trước mặt. Chúng đang sưng húp và bầm tím. Tôi tìm những sợi dây buộc. Tất cả những cử chỉ của tôi với cậu bé đều vụng về. “Nghe này: Cậu hãy nói cho đại tá sự thật. Đó là tất cả những gì ông ấy muốn. Một khi ông ấy chắc rằng cậu đang nói thật thì ông ta sẽ không làm hại cậu. Nhưng cậu phải nói với ông ta mọi điều cậu biết. Cậu phải trả lời bất cứ câu hỏi nào của ông ấy một cách trung thực. “Dù bất cứ hoàn cảnh gì đừng đánh mất trái tim mình”. Chọn những nút thắt để ít nhất tôi có thể nới lỏng sợi dây thừng. “Xoa hai bàn tay của cậu lại với nhau cho tới khi máu bắt đầu chảy”. Tôi xoa bóp bàn tay của cậu ấy giữa cơ thể mình. Cậu ta bẻ cong những ngón tay của mình một cách đau đớn. Tôi không thể giả vờ tốt hơn một người mẹ đang bảo vệ đứa con của mình giữa cơn thịnh nộ của người cha. Nó cũng giống như người thẩm vấn có thể mang hai mặt nạ, nói chuyện với hai giọng điệu, một khắc nghiệt, một cám dỗ. “Anh đã có thứ gì để ăn vào tối nay chưa?” Tôi hỏi người cảnh vệ. “Tôi không biết”. Anh trả lời. “Cậu đã có thứ gì để ăn chưa?” Tôi hỏi cậu bé. Cậu ta lắc đầu. Tôi cảm giác trái tim mình nặng nề. Tôi không bao giờ muốn lôi kéo vào điều này. Nơi mà nó sẽ kết thúc tôi cũng không biết. Tôi quay lại nói với người cảnh vệ. Tôi sẽ rời khỏi đây bây giờ nhưng có ba điều tôi muốn làm. Trước tiên khi bàn tay của cậu bé ấm hơn tôi muốn trói chúng lại lần nữa nhưng không quá chặt đến mức bị sưng lên. Thứ hai, tôi muốn anh dịch chuyển cái xác đến góc sân. Đừng mang nó trở lại. Vào sáng sớm tôi sẽ liên hệ với nhóm người mai táng để lấy cái xác và anh sẽ bàn bạc với họ. Nếu có bất cứ thắc mắc gì cứ nói rằng tôi đã yêu cầu như thế. Thứ ba, ngay bây giờ tôi muốn cậu hãy khóa lều lại và đi cùng tôi. Tôi sẽ đưa anh vài thứ trong bếp cho cậu bé ăn và anh sẽ mang chúng về lều. Tôi không muốn lôi kéo ai vào chuyện này. Tôi là một thẩm phán quốc gia, một người chịu trách nhiệm chính thức trong việc phục vụ cho đế quốc, phục vụ trong những ngày chờ đợi nghỉ hưu. Tôi thu các loại thuế, quản lí các vùng đất chung, trông coi đồn trú được quy định, giám sát các cơ sở sĩ quan mà chúng ta có ở đây, để mắt đến thương mại, làm chủ tòa trong tòa án pháp luật hai lần một tuần. Thời gian còn lại tôi ngắm mặt trời mọc và sinh hoạt: ăn uống và ngủ. Khi tôi qua đời tôi hi vọng sẽ để lại công đức trong công báo của đế quốc. Tôi đã không đòi hỏi gì hơn là một cuộc sống yên bình trong một khoảng thời gian yên tĩnh. Nhưng năm trước những câu chuyện về bọn mọi rợ đã làm phiền đến chúng tôi. Những thương nhân đi du lịch không an toàn vì họ đã bị tấn công và cướp bóc. Những tên trộm hàng hóa đã tăng lên về quy mô và táo bạo hơn. Một thành phần thuộc cán bộ điều tra dân số mất tích. Một thống đốc tỉnh trong một chuyến đi thanh tra bị bắn. Đã có nhiều cuộc đụng độ với lực lượng tuần tra biên giới. Các bộ lạc man rợ vũ trang, tin đồn về họ đã lan nhanh; đế quốc nên có biện pháp phòng ngừa vì chắc chắn sẽ xảy ra chiến tranh. Tình trạng này bản thân tôi thấy không có gì lạ. Theo cá nhân tôi quan sát thì mỗi một thế hệ nếu không thất bại thì sẽ tình cờ xuất hiện sự cuồng loạn của bọn mọi rợ. Không có người phụ nữ nào sống ở biên giới không mơ thấy một bàn tay đen tối của bọn mọi rợ từ dưới gầm giường bỗng nhiên bám chặt lấy mắt cá chân của cô ta, không có người đàn ông nào mà không sợ hãi khi hình ảnh của bọn mọi rợ đang chè chén trong chính ngôi nhà của mình, đập vỡ những tấm kính, đốt cháy những rèm cửa, cưỡng hiếp con gái của mình. Những giấc mơ đó là kết quả của việc quá dễ dãi. Hãy chỉ cho tôi đội quân mọi rợ và tôi sẽ tin. Mối quan tâm của thủ đô là những bộ lạc của bọn mọi rợ ở phía Bắc và phía Tây được hợp nhất. Những cán bộ nhân viên nói chung đã được gửi tới vùng biên giới. Một số đơn vị đồn trú cũng được tăng cường. Thương nhân yêu cầu họ được hộ tống quân sự. Và các quan chức của Văn phòng thứ ba thuộc Bảo vệ dân đã được thành lập lần đầu tiên trên biên giới, người giám hộ của Nhà nước, các chuyên gia dập tắt nổi loạn, tín đồ, các bác sĩ bị thẩm vấn. Vì vậy, bây giờ có vẻ những năm dễ dàng của tôi sắp kết thúc, khi tôi có thể ngủ với một trái tim yên bình biết rằng với một cú đánh bằng cù chỏ vào đây và chạm vào đó thế giới sẽ ổn định lại phương hướng của nó. Tôi bàn giao hai tù nhân không hợp lệ cho Đại tá, tôi suy nghĩ- “Đây, Đại tá, anh là chuyên gia, xem những gì anh có thể làm với họ!”- Tôi đã đi một chuyến đi săn trong vài ngày, như đã làm, một chuyến viếng thăm trên sông, và trở lại, mà không ghi chép gì về nó, hoặc sau khi lướt qua nó với một con mắt không tò mò, và đặt con dấu của tôi trên báo cáo của mình, không có câu hỏi về những gì điều tra, nghĩa là những gì nằm bên dưới nó như bên dưới một hòn đá. Nếu tôi đã làm những điều khôn ngoan, thì có lẽ bây giờ tôi có thể có thể trở về nơi săn bắn của tôi và yên tâm trong khi chờ đợi các hành động có thể chấm dứt những biến động dọc theo biên giới. Nhưng than ôi, tôi không đi xe: lúc đó tôi dừng lại lắng tai nghe tiếng ồn đến từ túp lều của vựa lúa. Sau đó, trong đêm, tôi lấy một chiếc đèn lồng và đi xem để tự lí giải cho bản thân mình.
Quảng cáo